Chuyển đến nội dung chính

Chọn form C/O cho thị trường nào là đúng: ba nhóm giấy chứng nhận xuất xứ

Chọn form C/O cho thị trường nào phụ thuộc vào hiệp định mà nước nhập khẩu áp dụng với Việt Nam, không phải vào tên nước — nơi không có hiệp định thì không có C/O ưu đãi.

Đọc 7 phút

Ảnh minh họa cách chọn đúng form C/O cho thị trường xuất khẩu theo từng nhóm hiệp định thương mại

Form C/O cho thị trường nào phải chọn theo hiệp định thương mại mà thị trường đó đang áp dụng với Việt Nam, chứ không theo tên nước. Mỗi hiệp định có mẫu riêng và bộ quy tắc xuất xứ riêng; còn thị trường không có hiệp định chung với Việt Nam — Hoa Kỳ là ví dụ lớn nhất — thì không tồn tại một C/O ưu đãi nào để xin, dù người mua có yêu cầu đến đâu.

Lỗi tốn tiền nhất trong khâu này hiếm khi là điền sai ô trên mẫu. Nó thường là một trong hai lỗi khác: nộp đơn cho một mẫu mà hàng chưa đạt quy tắc xuất xứ của hiệp định đó, hoặc nộp cho cơ quan không còn thẩm quyền cấp sau hai lần thay đổi trong hơn một năm qua. Cả hai chỉ lộ ra khi hàng đã đóng container.

Ba nhóm C/O và một nhánh phải kiểm tra trước khi nộp đơn

Thị trường đích của lô hàng này thuộc nhóm nào?

Có hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam và nước đó cùng tham gia
Xin C/O ưu đãi theo đúng mẫu của hiệp định đó và áp bộ quy tắc xuất xứ của chính hiệp định đó
Không có hiệp định chung, chẳng hạn Hoa Kỳ
Không tồn tại C/O ưu đãi để xin; chỉ có C/O không ưu đãi theo yêu cầu của nước nhập khẩu, kèm hồ sơ chứng minh xuất xứ
Nước nhập khẩu áp cơ chế tự chứng nhận xuất xứ
Phải được chấp thuận bằng văn bản hoặc đăng ký mã trước, rồi tự khai xuất xứ trên chứng từ thương mại thay cho form giấy
Chưa chắc hàng có đạt xuất xứ theo quy tắc của thị trường đó
Tra quy tắc cụ thể mặt hàng theo mã HS trước khi nộp đơn, vì cùng một mặt hàng có thể đạt ở hiệp định này mà trượt ở hiệp định khác
Nhánh cuối là nhánh hay bị bỏ qua nhất: hồ sơ bị trả về thường vì quy tắc xuất xứ, không vì điền sai mẫu.

Ba nhóm C/O, phân theo thứ bạn thật sự nhận được khi nộp nó

Nhóm thứ nhất là C/O ưu đãi theo hiệp định thương mại tự do: nộp cho hải quan nước nhập khẩu để được hưởng thuế suất ưu đãi. Mẫu nào, khai gì, hàng phải đạt tiêu chí nào — tất cả do chính hiệp định đó quy định, nên cùng một lô hàng có thể đạt ở hiệp định này mà trượt ở hiệp định khác.

Nhóm thứ hai là C/O không ưu đãi: không giảm được đồng thuế nào, nhưng vẫn cần cho thông quan, cho hạn ngạch, cho các biện pháp phòng vệ thương mại, hoặc đơn giản vì người mua và ngân hàng yêu cầu trong bộ chứng từ thanh toán. Nhóm này gồm mẫu B và các mẫu C/O không ưu đãi do chính nước nhập khẩu quy định.

Nhóm thứ ba không phải là một tờ giấy do cơ quan cấp, mà là cơ chế tự chứng nhận xuất xứ: doanh nghiệp tự khai xuất xứ trên chứng từ thương mại, sau khi đã được chấp thuận bằng văn bản hoặc đã đăng ký mã theo yêu cầu của thị trường đích. Đây là hình thức đang được mở rộng, và cũng là nhóm mà hồ sơ nội bộ phải chắc nhất, vì không còn ai soát giúp bạn trước khi phát hành.

  • C/O ưu đãi: mẫu và tiêu chí do từng hiệp định quy định, mục tiêu là giảm thuế ở nước đến
  • C/O không ưu đãi: mẫu B hoặc mẫu do nước nhập khẩu quy định, phục vụ thông quan và chứng từ
  • Tự chứng nhận: được chấp thuận bằng văn bản hoặc đăng ký mã trước, rồi tự khai trên chứng từ thương mại

Ai cấp C/O bây giờ: chỗ này đã đổi hai lần trong hơn một năm

Thay đổi thứ nhất diễn ra năm 2025. Quyết định 1103/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ban hành và có hiệu lực ngày 21/4/2025 đã thu hồi thẩm quyền cấp C/O, cấp giấy chứng nhận hàng hóa không thay đổi xuất xứ và tiếp nhận đăng ký mã REX theo cơ chế ưu đãi thuế quan phổ cập của Na Uy, Thụy Sĩ trước đó giao cho Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Từ ngày 05/5/2025, tổ chức này dừng cấp toàn bộ C/O mẫu A, mẫu B, các mẫu không ưu đãi theo quy định của nước nhập khẩu, giấy chứng nhận hàng không thay đổi xuất xứ, C/O mẫu GSTP và đăng ký REX; đầu mối chuyển về Cục Xuất nhập khẩu, còn khoảng thời gian từ 21/4 đến 04/5/2025 là giai đoạn bàn giao.

Thay đổi thứ hai là phân cấp. Nghị định 146/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại; trên cơ sở đó, Thông tư 40/2025/TT-BCT ngày 22/6/2025 quy định việc cấp C/O và chấp thuận bằng văn bản cho thương nhân tự chứng nhận xuất xứ, với chủ thể thực hiện là Cục Xuất nhập khẩu và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Theo trang tổng hợp văn bản LuatVietnam, thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; cũng theo nguồn tổng hợp đó, Thông tư 26/2026/TT-BCT ký ngày 20/5/2026 và có hiệu lực từ ngày 29/5/2026 tiếp tục phân định công việc cấp C/O giữa Cục Xuất nhập khẩu và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại Điều 19.

Hệ quả thực tế cho người làm hồ sơ: nơi nộp và mẫu đơn có thể khác nhau tùy tỉnh và tùy loại C/O, nên việc dùng lại bộ hồ sơ của năm ngoái là rủi ro. Theo công bố của Bộ Công Thương, 36 thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu đã được sửa đổi, bổ sung và áp dụng từ ngày 01/5/2026, trọng tâm chính là thủ tục cấp các loại C/O ưu đãi, không ưu đãi và thủ tục chấp thuận bằng văn bản cho cơ chế tự chứng nhận xuất xứ trong khối ASEAN.

  • Kiểm tra lại đầu mối cấp trước mỗi lô, thay vì dùng lại đường đi của hồ sơ cũ
  • C/O ưu đãi và C/O không ưu đãi có thể không cùng một nơi tiếp nhận
  • Doanh nghiệp muốn tự chứng nhận phải xin chấp thuận bằng văn bản trước, không tự khai rồi hợp thức sau

Một nhầm lẫn phổ biến về văn bản: thông tư bãi bỏ không phải văn bản về xuất xứ

Thông tư 12/2026/TT-BCT thường bị nhắc tới như văn bản đã cắt bỏ 36 thủ tục hành chính về xuất nhập khẩu. Bản có dấu đăng trên công báo cho thấy điều khác: Điều 1 bãi bỏ toàn bộ 22 văn bản quy phạm pháp luật, tập trung ở điện lực, hóa chất, than, thuốc lá, an toàn điện và quản lý thị trường; Điều 2 chỉ bãi bỏ một phần vài cụm từ trong 5 văn bản khác. Đó là dọn dẹp thuật ngữ sau đợt phân cấp, không phải văn bản chuyên đề về xuất xứ và cũng không thay đổi quy tắc C/O nào.

Con số 36 thủ tục thuộc về một quyết định của Bộ Công Thương, không thuộc thông tư nói trên. Theo trang tổng hợp văn bản LuatVietnam, quyết định đó mang số hiệu 771/QĐ-BCT, ký ngày 09/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/5/2026; riêng mối liên hệ giữa số hiệu này và danh mục 36 thủ tục thì chúng tôi chưa đối chiếu được trên trang của Bộ Công Thương, nên hãy tra cứu lại theo số hiệu trước khi trích dẫn trong hồ sơ chính thức.

Bài học ở đây không phải là số hiệu văn bản, mà là thói quen: một bản tin tóm tắt sai một chữ có thể khiến doanh nghiệp bỏ qua một thủ tục vẫn đang tồn tại. Cùng một kỷ luật đó áp cho bộ chứng từ bán hàng — khách quốc tế đọc bằng chứng theo thứ tự chứ không đọc lời hứa.

Quy tắc xuất xứ mới là thứ quyết định bạn có được cấp form đó hay không

Không tồn tại một ngưỡng giá trị gia tăng chung áp cho mọi mặt hàng. Nguyên tắc là nước diễn ra công đoạn gia công, chế biến cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa; còn tiêu chí cụ thể nằm ở danh mục quy tắc cụ thể mặt hàng, liệt kê theo mã HS, cho phép chọn tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc tiêu chí hàm lượng giá trị, với tỷ lệ khác nhau theo từng dòng hàng. Nói cách khác, câu hỏi đúng luôn là hàng của tôi ở mã HS này, đi thị trường này, phải đạt tiêu chí gì.

Con số 30% mà nhiều bên trích dẫn như tiêu chuẩn để gọi là hàng Việt Nam đến nay vẫn chỉ nằm trong dự thảo. Theo báo chí chính thống trong nước, tính đến ngày 06/6/2026 Bộ Công Thương vẫn đang trình Chính phủ dự thảo nghị định về tiêu chí xác định hàng hóa sản xuất tại Việt Nam cho hàng lưu thông trong nước, theo hướng doanh nghiệp tự khai, và tỷ lệ cụ thể chưa được công bố. Dùng một con số dự thảo để tự trấn an trong hồ sơ xuất khẩu là rủi ro không cần thiết.

Nền pháp lý vẫn là Nghị định 31/2018/NĐ-CP: theo Bộ Công Thương, tổ soạn thảo nghị định thay thế đã được lập từ năm 2025 và họp góp ý bản thảo lần hai ngày 23/5/2025, nhưng nghị định thay thế đến nay chưa ban hành. Chính nghị định này liệt kê các công đoạn gia công đơn giản không được xét khi xác định xuất xứ — bảo quản trong vận chuyển và lưu kho, làm sạch bụi, sàng lọc, phân loại, đóng gói lại, dán nhãn, pha trộn đơn giản, lắp ráp đơn giản các bộ phận, giết mổ động vật — và cũng nghị định này đặt ngưỡng De Minimis 15%, vốn là quy tắc bỏ qua tỷ lệ nhỏ nguyên liệu không đạt xuất xứ, không phải ngưỡng để đạt xuất xứ.

  • Tra quy tắc theo mã HS của thành phẩm, không suy từ tỷ lệ nội địa hóa chung của nhà máy
  • Đóng gói lại, dán nhãn, lắp ráp đơn giản không tạo ra xuất xứ Việt Nam
  • Ngưỡng De Minimis là quy tắc bỏ qua phần nhỏ, không phải điều kiện để đạt xuất xứ

Thị trường không có hiệp định: hồ sơ thay cho form

Với thị trường không có hiệp định chung, không có mẫu C/O nào giúp giảm thuế, nên C/O nếu được yêu cầu chỉ đóng vai trò chứng từ thương mại. Thứ quyết định lại là hồ sơ chứng minh công đoạn sản xuất thật sự diễn ra ở đâu — với hàng đi Hoa Kỳ, đó là bộ chứng cứ về chuyển đổi cơ bản chứ không phải tờ C/O.

Cũng đừng nhầm C/O với truy xuất nguồn gốc. C/O trả lời câu hỏi hàng mang xuất xứ nước nào theo quy tắc pháp lý; còn thị trường châu Âu đang hỏi thêm một câu khác — nguyên liệu này đến từ mảnh đất nào, thời điểm nào — và đó là bài toán dữ liệu chuỗi cung ứng, không giải được bằng một tờ giấy.

Vì vậy khi người mua ở thị trường không có hiệp định đòi C/O, câu hỏi nên hỏi lại là họ cần nó để làm gì: thông quan, ngân hàng, hay tự bảo vệ trước cơ quan hải quan nước họ. Ba mục đích đó cần ba bộ hồ sơ khác nhau, và chỉ mục đích thứ ba mới đòi tới hồ sơ sản xuất của nhà máy.

Khai sai xuất xứ bị xử lý thế nào ở phía Việt Nam

Từ ngày 01/7/2026, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan áp dụng theo Nghị định 169/2026/NĐ-CP; nghị định này thay thế Nghị định 128/2020/NĐ-CP và đồng thời chấm dứt hiệu lực Điều 2 của Nghị định 102/2021/NĐ-CP. Doanh nghiệp còn dùng bảng tra mức phạt của văn bản cũ nên cập nhật lại.

Riêng hành vi làm giả xuất xứ Việt Nam — với hàng xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu — được tách thành một điều riêng, chia mức phạt theo năm bậc trị giá hàng vi phạm. Bậc thấp nhất, áp cho lô hàng trị giá dưới 30.000.000 đồng, bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; bậc cao nhất bị phạt từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, kèm tịch thu tang vật vi phạm, buộc tiêu hủy hoặc buộc nộp lại số tiền tương đương trị giá tang vật đã tiêu thụ.

Đáng chú ý hơn cả mức tiền là thời hiệu: nghị định quy định thời hiệu xử phạt là năm năm với nhóm vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hàng xuất nhập khẩu chưa đến mức truy cứu hình sự, và hai năm với các vi phạm khác trong lĩnh vực hải quan. Nghĩa là hồ sơ chứng minh xuất xứ phải sống lâu hơn lô hàng rất nhiều, và phải tìm lại được — đây là lúc cách lưu trữ dữ liệu vận hành quyết định bạn trả lời được hay không.

  • Cập nhật bảng tra mức phạt sang văn bản đang có hiệu lực, đừng dùng bản cũ
  • Lưu hồ sơ chứng minh xuất xứ theo thời hiệu dài nhất áp cho lô hàng, không theo vòng đời đơn hàng
  • Hồ sơ phải tìm lại được theo số tờ khai và mã hàng, không chỉ nằm đâu đó trong kho lưu trữ

Nguồn dữ liệu

Bài viết được tổng hợp từ văn bản pháp luật công khai và thông báo chính thức, mỗi số liệu đều ghi rõ nguồn. Quy định và biểu thuế có thay đổi, và việc xác định từng trường hợp thuộc thẩm quyền cơ quan quản lý — hãy tra cứu lại bản mới nhất theo nguồn đã dẫn trước khi dùng cho hồ sơ khai báo, hợp đồng hay thông quan.

Câu hỏi thường gặp

Cùng một lô hàng có thể xin nhiều loại C/O không?
Có, vì mỗi thị trường và mỗi mục đích cần một loại khác nhau: lô đi thị trường có hiệp định thì xin C/O ưu đãi theo mẫu của hiệp định đó, lô đi thị trường không có hiệp định thì chỉ có C/O không ưu đãi. Điều không làm được là dùng một mẫu cho mọi nơi đến.
Hàng gia công tại Việt Nam từ nguyên liệu nhập khẩu có được cấp C/O Việt Nam không?
Tùy công đoạn thực hiện tại Việt Nam có đạt tiêu chí xuất xứ của thị trường đích hay không. Các công đoạn đơn giản như đóng gói lại, dán nhãn, phân loại hay lắp ráp đơn giản không được xét khi xác định xuất xứ, dù chúng vẫn tốn nhân công và chi phí ở Việt Nam.
Đạt tỷ lệ nội địa hóa 30% có được coi là hàng Việt Nam không?
Không có quy định hiện hành nào đặt ngưỡng chung như vậy. Con số này xuất hiện từ các bản dự thảo và đến nay vẫn đang trong giai đoạn dự thảo, còn tiêu chí thật nằm ở danh mục quy tắc cụ thể mặt hàng theo mã HS, mỗi dòng hàng một tiêu chí.
Người mua ở Mỹ đòi C/O thì nên đưa loại nào?
Không có C/O ưu đãi cho thị trường này, nên thứ có thể cấp là C/O không ưu đãi. Nhưng hãy hỏi rõ họ cần nó cho mục đích gì, vì nếu mục đích là chứng minh xuất xứ với cơ quan hải quan nước họ thì tờ C/O không thay được hồ sơ sản xuất của nhà máy.

Bài liên quan

Muốn xem hệ thống chạy thật?

Cho chúng tôi biết giai đoạn đang khiến bạn đau đầu nhất, chúng tôi sẽ mang hệ thống đang chạy thật đến buổi demo.

Đặt lịch demo